Môi trường không khí Tổng quan Công nghệ xử lý khí thải ở Việt nam

Công nghệ xử lý khí thải ở Việt nam

 

Nền kinh tế và sản xuất công nghiệp của nước ta sau gần 20 năm đổi mới (kể từ 1986 đến nay) đã đạt những thành tích quan trọng, góp phần đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng trì trệ, lạc hậu, kém phát triển với thu nhập quốc dân ngày một tăng cao và tăng trưởng kinh tế khá ổn định ở mức tương đối khá so với một số nước trong khu vực

TÌNH HÌNH CHUNG

Nền kinh tế và sản xuất công nghiệp của nước ta sau gần 20 năm đổi mới (kể từ 1986 đến nay) đã đạt những thành tích quan trọng, góp phần đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng trì trệ, lạc hậu, kém phát triển với thu nhập quốc dân ngày một tăng cao và tăng trưởng kinh tế khá ổn định ở mức tương đối khá so với một số nước trong khu vực. Ngoài những lợi ích về kinh tế xã hội, sự phát triển sản xuất công nghiệp cũng gây ra nhiều tác hại cho môi trường do các nguồn gây ô nhiễm khác nhau: bụi, khí độc hại, nước thải và chất thải rắn.

Hiện nay ở một số cơ sở sản xuất cũ quy mô vừa và nhỏ có áp dụng các phương pháp xử lý bụi và khí độc hại đơn giản như: buồng lắng bụi, xiclon, lọc bụi túi vải, tháp rửa khí, tháp hấp thụ bằng vật liệu rỗng tưới nước hoặc tưới dung dịch sữa vôi. Nhìn chung các loại thiết bị và hệ thống xử lý khí ở khu vực này còn ở mức thấp do trình độ thiết kế, chế tạo, trình độ công nhân vận hành chưa được nâng cao, cộng vào đó là ý thức của các chủ doanh nghiệp chưa thật sự tự giác trong việc lắp đặt và vận hành hệ thống xử lý khí thải nhằm hạn chế phát thải ô nhiễm để bảo vệ môi trường.

Riêng đối với một số ngành công nghiệp quan trọng như: xi măng, nhiệt điện và nhất là công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì hệ thống xử lý khí thải tương đối quy mô và đồng bộ, bao gồm cả thiết bị lọc bụi xiclon, túi vải và tĩnh điện.

HIỆN TRẠNG CÔNG NGHỆ XỬ LÝ BỤI VÀ KHÍ ĐỘC HẠI CỦA MỘT SỐ NGÀNH SẢN XUẤT CHÍNH

1. Tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung

Tình hình xử lý khí thải ở các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc và miền Trung nhìn chung còn ở mức rất hạn chế, chủ yếu là xử lý bụi ở một số cơ sở sản xuất quan trọng và quy mô lớn như các nhà máy xi măng, nhiệt điện. Công nghệ xử lý bụi ở đây là dùng thiết bị lọc bụi xiclon khô và ướt tự chế tạo. Riêng ngành sản xuất ximăng, ở hầu hết các nhà máy quy mô vừa và lớn đều sử dụng thiết bị lọc bụi tĩnh điện nhập ngoại.  Hiệu quả xử lý bụi ở các cơ sở này nói chung là đạt yêu cầu về tiêu chuẩn phát thải và tiêu chuẩn môi trường không khí xung quanh cho các khu vực dân cư lân cận. Phần xử lý khí độc hại hầu như chưa được chú trọng và chủ yếu là dựa vào khả năng khuyếch tán chất ô nhiễm bằng ống khói có chiều  cao cần thiết.

Dưới đây là các bảng  thống kê các công nghệ xử lý khí thải đã được áp dụng trong một số ngành sản xuất chính ở vùng kinh tế trọng điểm  miền Bắc và miền Trung do các đơn vị  KHCN trong nước thiết kế, chế tạo và lắp đặt (Chỉ nêu các cơ sở tiêu biểu và có đầy đủ số liệu khảo sát (Xem bảng 1 và 2).

Hệ thống xử lý bụi do Viện KHKT Bảo hộ Lao động thiết kế lắp đặt và hoạt động có hiệu quả tại Nhà máy điện Uông Bí từ năm 2003

2. Tại các tỉnh miền Nam

Ở các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm  miền Nam, tình hình xử lý khí thải dù chưa triệt để, nhưng cũng có những bước phát triển tương đối đều hơn, cả về xử lý bụi lẫn khí độc hại. Sau đây là tình hình xử lý khí thải của một số ngành công nghiệp chủ yếu.

Đối với nguồn ô nhiễm do đốt nhiên liệu

Theo kết quả điều tra, ở các khu công nghiệp (KCN) của vùng kinh tế trọng điểm miền Nam có khoảng 5% cơ sở có lò đốt nhiên liệu được lắp đặt hệ thống xử lý bụi và khí độc hại, số còn lại  hiện nay chỉ mới xây dựng phương án xử lý.

Tại KCN của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, một số nhà máy có đầu tư hệ thống xử lý khí độc hại trước khi thải ra môi trường. Công nghệ sử dụng là hấp thụ bằng nước.

Đối với nguồn ô nhiễm từ các dây chuyền công nghệ

Đây là loại ô nhiễm mang tính chất đặc trưng, phụ thuộc vào từng loại ngành nghề sản xuất cũng như công nghệ mà nhà máy, xí nghiệp lựa chọn.

Các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và TP. Hồ Chí Minh có nền công nghiệp phát triển mạnh hơn Bà Rịa - Vũng Tàu. Những cơ sở sản xuất mới xây dựng hiện đại đều có các hệ thống xử lý kèm theo dây chuyền công nghệ. Còn các cơ sở sản xuất đã có từ trước thì do máy móc cũ, lạc hậu và gây ô nhiễm môi trường khá nghiêm trọng nên đã có một số cơ sở lắp đặt hệ thống xử lý khí thải cho các dây chuyền công nghệ.

Xét theo ngành nghề, hiện trạng xử lý ô nhiễm không khí như sau:

- Công nghiệp chế biến gỗ

Các nhà máy chế biến gỗ tập trung nhiều nhất ở các khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, nhưng chỉ ở một số ít nhà máy có hệ thống xử lý bụi 2 cấp: xiclon và bộ lọc túi vải như công ty gỗ Việt Giai, xí nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu An Bình... Công nghệ xử lý bụi 2 cấp đảm bảo tiêu chuẩn phát thải theo qui định (Hình 2).

- Công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng

Đây là ngành công nghiệp với chất ô nhiễm chủ yếu là bụi vô cơ kích thước nhỏ. Các  nhà máy xi măng mới xây dựng hoặc nhà máy lớn  đều được trang bị hệ thống lọc bụi hiện đại, hiệu suất cao (hệ thống lọc bụi tĩnh điện) như Nhà máy xi măng Sao Mai. Phần lớn các nhà máy gạch men, sứ vệ sinh mới xây dựng đều sử dụng thiết bị lọc bụi túi vải có bộ giũ bụi bằng khí nén để thu hồi bụi. Hiệu suất thu hồi cao (>90%). (Sơ đồ công nghệ xử lý bụi tại các công ty xi măng và gạch men cho trên hình 3).

Trong khu vực một số nhà máy thép như Nhà máy thép Biên Hòa, Nhà máy cơ khí luyện kim của Công ty Thép miền Nam, Công ty thép Sun Co, Công ty thép Pomina... đã sử dụng công nghệ xử lý khói thải từ lò hồ quang theo nguyên lý thu bụi bằng túi vải có kết hợp khử CO. Khí thải sau xử lý đạt TCVN 5939-1995 (đối với nguồn loại B).

- Công nghiệp mạ kim loại

Đây là một ngành công nghiệp đang có xu hướng phát triển nhanh tại khu vực với các chất ô nhiễm không khí điển hình là hơi axit (HCl), khí NH3, bụi. Công nghệ xử lý khí thải cho ngành công nghiệp này là sử dụng phương pháp hấp thụ với thiết bị hấp thụ 2 cấp đạt hiệu quả cao, đã được sử dụng tại các công ty tôn Phương Nam, Posvina, lưới thép Bình Tây, tôn Phước Khanh, công ty Vingal...

- Các ngành công nghiệp khác

Trong một số ngành công nghiệp khác, các nhà máy cũng đã tiến hành lắp đặt các hệ thống xử lý ô nhiễm không khí chủ yếu là bụi như các nhà máy sản xuất giày, may mặc, cơ khí, thuốc bảo vệ thực vật ... Công nghệ chủ yếu được các nhà máy sử dụng để lọc bụi thường là dùng xyclon, thiết bị lọc túi vải hoặc tháp rửa khí (scrubber).

NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ

Trong những năm gần đây, tình hình áp dụng công nghệ xử lý khí thải để bảo vệ môi trường không khí ở nước ta đã có những bước tiến rõ rệt. Nhiều doanh nghiệp đã ý thức được trách nhiệm  phải tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường, đầu tư lắp đặt thiết bị xử lý khí thải. Tuy nhiên, tỷ lệ các doanh nghiệp chịu đầu tư xử lý khí thải là chưa cao. Nhà nước cần có chính sách và biện pháp hữu hiệu để nâng cao tỷ lệ này càng nhanh càng tốt.

Toàn bộ các loại công nghệ xử lý khí thải được áp dụng đã nêu trên đây đều do các đơn vị  KHCN trong nước nghiên cứu thiết kế và chế tạo lắp đặt.

Ngay cả thiết bị xử lý bụi bằng điện cũng đã được Liên hiệp Khoa học sản xuất công nghệ hóa học (UCE) nghiên cứu chế tạo thành công, mang nhãn hiệu LBĐ-93T, đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH&CN) cấp bằng độc quyền sáng chế số 4195 ngày 25/3/2004 và đã lắp đặt sử dụng ở một số nhà máy xi măng như Nhà máy xi măng Hệ Dưỡng-Ninh Bình (1998), Xí nghiệp xi măng Quảng Bình (2001), Công ty xi măng Hà Tiên (2003) với tiêu hao điện năng thấp và giá thành rẻ hơn nhiều so với thiết bị cùng loại nhập ngoại. Tuy nhiên loại thiết bị cao cấp này còn cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để tăng độ bền và độ ổn định trong quá trình sử dụng vận hành.

Những thành công đã đạt được trên đây chứng tỏ đội ngũ cán bộ nghiên cứu và kỹ sư, kỹ thuật viên môi trường cũng như công nghệ chế tạo cơ khí trong nước đã đủ sức để thực hiện các yêu cầu đề ra về xử lý khí thải.

Mặc dù có những tiến bộ đáng kể nêu trên, song ở nước ta chưa hình thành ngành công nghiệp chế tạo thiết bị xử lý khí một cách chuyên nghiệp và đồng bộ, đủ sức cạnh tranh với thiết bị nhập ngoại. Vì vậy Nhà nước và các cơ quan hữu quan cần có chủ trương và biện pháp hữu hiệu để thúc đẩy vấn đề nay.

GS.TS. TRẦN NGỌC CHẤN